Ngân hàng thành viên

Quỹ tín dụng nhân dân

Hình ảnh hoạt động
Thống kê
  •     Đang online: 181
  •     Hôm nay: 1,309
  •     Hôm qua: 1,936
  •     Tuần này: 1,309
  •     Tuần trước: 16,278
  •     Tháng này: 309,177
  •     Tháng trước: 372,143
  •   Tổng lượt truy cập: 3,969,506
  • Tin tức trong ngành

    Ngày 01/9/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 102/2017/NĐ-CP về đăng ký biện pháp bảo đảm, thay thế Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10/2017. Được ban hành sau một loạt các luật mới như: Bộ Luật dân sự 2015, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, Luật Nhà ở năm 2014, Luật Đất đai năm 2013…, Nghị định 102/2017/NĐ-CP có nhiều thay đổi so với Nghị định 83/2010/NĐ-CP. Bài viết dưới đây xin được giới thiệu các điểm mới của Nghị định 102/2017/NĐ-CP.

     1. Về đối tượng áp dụng

    Nếu Nghị định 83/2010/NĐ-CP không có quy định về đối tượng áp dụng thì Nghị định 102/2017/NĐ-CP quy định rõ đối tượng áp dụng là: cá nhân, pháp nhân có yêu cầu đăng ký biện pháp bảo đảm, tìm hiểu thông tin về biện pháp bảo đảm; Hộ gia đình có yêu cầu đăng ký biện pháp bảo đảm, tìm hiểu thông tin về biện pháp bảo đảm theo quy định của Bộ luật dân sự; Cơ quan có thẩm quyền đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về đăng ký biện pháp bảo đảm; Cá nhân, pháp nhân khác có liên quan (Điều 2). Quy định này phù hợp với quy định tại Bộ luật dân sự 2015, theo đó chủ thể tham gia quan hệ dân sự là cá nhân, pháp nhân. Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Đối với hộ gia đình sử dụng đất, việc xác định chủ thể của quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình sử dụng đất được thực hiện theo quy định của Luật đất đai (Điều 101 Bộ Luật dân sự 2015).
    2. Về các trường hợp đăng ký
    Nghị định 83/2010/NĐ-CP có quy định về các giao dịch bảo đảm phải đăng ký gồm: (i) Thế chấp quyền sử dụng đất; (ii) Thế chấp rừng sản xuất là rừng trồng; (iii) Cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay; (iv) Thế chấp tàu biển; (vii) Các trường hợp khác, nếu pháp luật có quy định. Đồng thời, Nghị định 81/2010/NĐ-CP cũng quy định các giao dịch bảo đảm bằng tài sản không thuộc các trường hợp phải đăng ký được đăng ký khi cá nhân, tổ chức có yêu cầu (Điều 3).
    Bộ luật dân sự 2015 quy định về đăng ký biện pháp bảo đảm, theo đó, Điều 298 Bộ luật dân sự quy định “Biện pháp bảo đảm được đăng ký theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật. Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường hợp luật có quy định”.
    Trên cơ sở rà soát quy định tại các Luật, Nghị định 102/2017/NĐ-CP quy định cụ thể các biện pháp bảo đảm phải đăng ký gồm: (i) Thế chấp quyền sử dụng đất; (ii) Thế chấp tài sản gắn liền với đất trong trường hợp tài sản đó đã được chứng nhận quyền sở hữu trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; (iii) Cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay; (iv) Thế chấp tàu biển. Như vậy, Nghị định 102/2017/NĐ-CP đã bỏ quy định “các trường hợp khác, nếu pháp luật có quy định” để phù hợp với bộ luật dân sự 2015.
    Bên cạnh đó, để đảm bảo tính rõ ràng, Nghị định 102/2017/NĐ-CP liệt kê cụ thể các biện pháp bảo đảm được đăng ký khi có yêu cầu gồm: (i) Thế chấp tài sản là động sản khác; (ii) Thế chấp tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai; (iii) Bảo lưu quyền sở hữu trong trường hợp mua bán tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai; (iv) Mua bán tàu bay, tàu biển; (v) Mua bán tài sản là động sản khác có bảo lưu quyền sở hữu.
    3. Về thời điểm có hiệu lực của đăng ký biện pháp bảo đảm
    Việc xác định thời đểm có hiệu lực của đăng ký biện pháp bảo đảm rất quan trọng, không chỉ để xác định thứ tự ưu tiên thanh toán mà trong một số trường hợp còn là cơ sở để xác định hiệu lực của giao dịch bảo đảm.
    Thời điểm có hiệu lực của đăng ký biện pháp bảo đảm (sau đây gọi là thời điểm đăng ký) theo quy định tại Nghị định 102/2017/NĐ-CP có điểm khác với Nghị định 83/2010/NĐ-CP, cụ thể:
    Thứ nhất, trong trường hợp tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, Nghị định 83/2010/NĐ-CP quy địnhthời điểm đăng ký là thời điểm cơ quan đăng ký nhận hồ sơ đăng ký hợp lệ. Tuy nhiên, khoản 7 Điều 95 Luật Đất đai năm 2013 quy định “việc đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào Sổ địa chính” Do đó, Nghị định 102/2017/NĐ-CP quy định thời điểm đăng ký là thời điểm cơ quan đăng ký ghi nội dung đăng ký vào sổ đăng ký, thống nhất với trường hợp tài sản bảo đảm là tàu bay, tàu biển.
    Thứ hai, về xác định thời điểm đăng ký trong trường hợp đăng ký thay đổi:
    Nghị định 83/2010/NĐ-CP quy định trường hợp đăng ký thay đổi do bổ sung tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, tàu bay, tàu biển thì thời điểm đăng ký được xác định theo thời điểm đăng ký thay đổi. Như vậy, theo quy định tại Nghị định 83/2010/NĐ-CP, việc đăng ký thay đổi sẽ dẫn tới thay đổi thời điểm đăng ký của giao dịch bảo đảm.
    Nghị định 102/2017/NĐ-CP có quy định về việc xác định thời điểm đăng ký trong trường hợp đăng ký thay đổi. Theo đó,trường hợp đăng ký thay đổi do bổ sung tài sản bảo đảm mà các bên không ký kết hợp đồng bảo đảm mới hoặc do bổ sung nghĩa vụ được bảo đảm và tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo đảm các bên không có thỏa thuận về việc bảo đảm cho các nghĩa vụ phát sinh trong tương lai, thì thời điểm có hiệu lực của đăng ký biện pháp bảo đảm đối với tài sản bổ sung hoặc nghĩa vụ bổ sung là thời điểm cơ quan đăng ký ghi nội dung đăng ký thay đổi vào sổ đăng ký hoặc cập nhật vào cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm (khoản 2 Điều 6). Theo quy định này, thời điểm đăng ký đối với phần tài sản/nghĩa vụđã được đăng ký trước đó sẽ không thay đổi, việc xác định thời điểm đăng ký mới áp dụng cho phần tài sản/nghĩa vụ mới bổ sung.
    4. Về các trường hợp đăng ký thay đổi nội dung biện pháp bảo đảm
    Nghị định 83/2010/NĐ-CP ngoài liệt kê một số trường hợp đăng ký thay đổi nội dung biện pháp bảo đảm còn có quy định “Thay đổi nội dung khác đã đăng ký”, quy định này không rõ ràng các trường hợp nào bắt buộc phải đăng ký thay đổi.
    Nghị định 102/2017/NĐ-CP đã liệt kê cụ thể các trường hợp đăng ký thay đổi nội dung biện pháp bảo đảm, bao gồm: (i) Rút bớt, bổ sung hoặc thay thế bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm theo thỏa thuận của bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm; (ii) Thay đổi tên hoặc thay đổi bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm do tổ chức lại doanh nghiệp; (iii) Rút bớt tài sản bảo đảm; (iv) Bổ sung tài sản bảo đảm mà các bên không ký kết hợp đồng bảo đảm mới; (v) Tài sản bảo đảm là tài sản hình thành trong tương lai đã hình thành, trừ trường hợp tài sản bảo đảm hình thành trong tương lai là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc tài sản bảo đảm hình thành trong tương lai là phương tiện giao thông cơ giới đã kê khai số khung khi đăng ký biện pháp bảo đảm. Trường hợp tài sản bảo đảm là tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai (bao gồm cả nhà ở hình thành trong tương lai) đã hình thành, thì thủ tục đăng ký thay đổi được thực hiện đồng thời với thủ tục chứng nhận quyền sở hữu tài sản vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; (vi) Yêu cầu sửa chữa sai sót nội dung đã kê khai trong phiếu yêu cầu đăng ký; (vii) Bổ sung nghĩa vụ được bảo đảm mà trong hợp đồng bảo đảm ban đầu các bên không có thỏa thuận về việc cầm cố, thế chấp tài sản để bảo đảm cho các nghĩa vụ phát sinh trong tương lai (Điều 18).
    5. Về hồ sơ, thủ tục đăng ký biện pháp bảo đảm:
    Về hồ sơ, thủ tục đăng ký biện pháp bảo đảm quy định tại Nghị định 102/NĐ-CP được kế thừa các quy định còn phù hợp từ Nghị định 83/2010/NĐ-CP, pháp điển các quy định tại Thông tư liên tịch số 02/2012/TTLT-BTP-BGTVT ngày 30/3/2012 hướng dẫn việc đăng ký, cung cấp thông tin về cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay, thế chấp tàu biển; Thông tư liên tịch số 09/2016/TTLT-BTP-BTNMT ngày 23/6/2016 hướng dẫn việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, Thông tư số 05/2011/TT-BTP ngày 16 tháng 02 năm 2011 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số vấn đề về đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo việc kê biên tài sản thi hành án theo phương thức trực tiếp, bưu điện, fax, thư điện tử tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp và Thông tư số 22/2010/TT-BTP ngày 06 tháng 12 năm 2010 của Bộ Tư pháp hướng dẫn về đăng ký, cung cấp thông tin trực tuyến giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo việc kê biên tài sản thi hành án (được sửa đổi, bổ sung bới Thông tư số 08/2014/TT-BTP ngày 26/02/2014 và Thông tư số 11/2015/TT-BTP). Một số thành phần hồ sơ quy định tại các văn bản này cũng đã được rà soát, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn và quy định hiện hành, ví dụ về hồ sơ chuyển tiếp đăng ký thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở sang đăng ký thế chấp nhà ở do nhà ở hình thành trong tương lai đã được hình thành, hồ sơ xóa đăng ký thế chấp…
    Bên cạnh đó, Nghị định 102/2017/NĐ-CP cũng bổ sung một số quy định để đơn giản hóa thủ tục hành chính và nâng cao tính công khai, minh bạch trong hoạt động đăng ký biện pháp bảo đảm, cụ thể:
    Thứ nhất, Nghị định 102/2017/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện liên thông một số thủ tục trong quá trình đăng ký biện pháp bảo đảm nhằm giảm thời gian, chi phí cho người dân như: (i) Thủ tục liên thông trong đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất với thủ tục đăng ký biến động đất đai (khoản 2 Điều 43), (ii) Thủ tục liên thông đăng ký thay đổi tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai đã hình thành với thủ tục chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất vào Giấy chứng nhận (khoản 4 Điều 18), (iii) Thủ tục liên thông chuyển tiếp đăng ký thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở sang đăng ký thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai và chuyển tiếp đăng ký thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở sang đăng ký thế chấp nhà ở do nhà ở hình thành trong tương lai đã được hình thành (Điều 46).
    Thứ hai, Nghị định 102/2017/NĐ-CP quy định cơ quan đăng ký không được yêu cầu nộp thêm bất cứ giấy tờ gì mà pháp luật không quy định trong hồ sơ; không được yêu cầu các bên ký kết hợp đồng sửa lại tên hợp đồng bảo đảm, nội dung hợp đồng bảo đảm, nếu không thuộc trường hợp sai sót do lỗi kê khai của người yêu cầu đăng ký (khoản 1 Điều 7).
    Thứ ba, Nghị định 102/2017/NĐ-CP quy định cụ thể hơn các trường hợp từ chối đăng ký biện pháp bảo đảm, ví dụ như làm rõ việc từ chối trong trường hợp tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, nhà ở có tranh chấp chỉ thực hiện khi đã có văn bản thụ lý hoặc văn bản chứng minh việc thụ lý giải quyết tranh chấp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp (điểm d khoản 1 Điều 15)…; Nghị định cũng bổ sung quy định việc từ chối được thực hiện trong ngày nhận hồ sơ; nếu nhận hồ sơ sau 15 giờ, thì việc từ chối được thực hiện trong ngày làm việc tiếp theo (khoản 3 Điều 15).
    Thứ tư, Nghị định 102/2017/NĐ-CP cũng bổ sung quy định về cơ quan có thẩm quyền đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm (Điều 9), nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan này; quy định cụ thể về tiếp nhận hồ sơ đăng ký biện pháp bảo đảm (Điều 14), về giấy tờ chứng minh trường hợp không phải nộp phí khi thực hiện đăng ký biện pháp bảo đảm (Điều 12)...
    (Tin Website NHNN)