Ngân hàng thành viên

Quỹ tín dụng nhân dân

Hình ảnh hoạt động
Thống kê
  •     Đang online: 284
  •     Hôm nay: 515
  •     Hôm qua: 2,332
  •     Tuần này: 11,768
  •     Tuần trước: 18,745
  •     Tháng này: 380,816
  •     Tháng trước: 371,927
  •   Tổng lượt truy cập: 3,833,040
  • Lịch sử hình thành ngân hàng nhà nước tỉnh Tiền Giang

    Dưới thời thuộc Pháp, tại Tiền Giang, hoạt động tín dụng được xem là đầu tiên diễn ra vào năm 1863 ở Gò Công. Năm ấy, tại đây có một vụ hạn hán lớn. Để mua chuộc nông dân, Thủy sư Đô đốc De la Grandiere cho họ vay một số tiền để mua thóc giống gieo mạ lại, mà không lấy lãi. Sau thu hoạch, nông dân mới hoàn trả vốn.

    Tháng 1/1875, Ngân hàng Đông Dương được thành lập, mở đầu cho sự hình thành hệ thống Ngân hàng và hoạt động tín dụng ở Việt Nam và Đông Dương. Tháng 4/1875, Ngân hàng Đông Dương khai trương chi nhánh ở Sài Gòn, tiếp theo là chi nhánh ở Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng sau đó ở một số tỉnh khác.

    Đến năm 1876, chương trình tín dụng nông nghiệp do ngân hàng Đông Dương triển khai được tiến hành lần đầu tiên ở Gò Công. Tuy nhiên, vì thủ tục cho vay phức tạp, khâu tuyên truyền, quảng bá yếu kém nên dân chúng hầu như không biết, không hiểu gì về việc cho vay vốn của ngân hàng Đông Dương.

    Đối tượng được vay tiền là những người có ruộng đất. Nhưng tiểu nông ít khi được vay tiền, trong khi đó, địa chủ được vay với số tiền lớn, mặc dù ngân hàng có quy định, số tiền cho vay không được vượt quá 1/3 giá trị thu hoạch của từng vụ được ước tính trước cụ thể theo từng loại ruộng. Năm 1890, bình quân một suất vay là 16,04 đồng. Tuy nhiên, một số địa chủ ở Gò Công vay được đến hàng ngàn đồng, nguyên nhân là vì địa chủ dùng tài sản ruộng đất rất lớn của mình đem ra thế chấp ở ngân hàng, như địa chủ Lê Văn Trinh ở làng Dương Phước (Gò Công) thế chấp 57 ha để được vay 3.500 đồng, bình quân mỗi ha vay được 61 đồng. Trong bối cảnh lãi suất ở nông thôn thường cao hơn nhiều lần so với lãi suất của Ngân hàng Đông Dương, việc chấp nhận một số cá nhân địa chủ giàu có vay những khoản tiền lớn như trên đã dẫn đến những lạm dụng và đầu cơ không thể kiểm soát nổi.

    Thời điểm Ngân hàng cho vay tiền thường tập trung vào lúc nông dân đang canh tác vụ mùa chính trong năm, khoảng từ tháng 6 đến tháng 10, gọi là định chế “cho vay theo mùa”. Ví dụ năm 1887, ở Gò Công, Ngân hàng Đông Dương giải ngân trong tháng 7 là 10.625 đồng, tháng 8 là 5.057 đồng, tháng 9 là 2.620 đồng, tháng 10 là 2.860 đồng.

    Lãi suất tiền vay mà Ngân hàng Đông Dương áp dụng như sau:

    - Từ năm 1876 – 1885: 15%/năm.

    - Từ năm 1886 – 1896: 11%/năm.

    - Từ năm 1897 trở đi: 8%/năm.

    Tuy nhiên, nguồn thu từ lãi này Ngân hàng Đông Dương phải trích lại một phần cho ngân sách địa phương theo tỉ lệ như sau:

    - 15% trích 3%.

    - 11% trích 2%.

    - 8% trích 1%.

    Lúc bấy giờ, Gò Công được xếp thứ hai, sau Bạc Liêu, trong danh sách những địa phương ở Nam kỳ được vay tiền nhiều nhất của Ngân hàng Đông Dương.

    Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tình hình tài chính ở Tiền Giang rất khó khăn. Do đó, năm 1976, chi nhánh Ngân hàng Quốc gia Việt Nam tỉnh Tiền Giang được ra đời với nhiệm vụ quản lý và thực hiện chính sách tín dụng trong địa bàn tỉnh. Đến năm 1978, Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam tỉnh Tiền Giang đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tỉnh Tiền Giang.

    Quá trình phát triển của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tỉnh Tiền Giang có thể chia làm các giai đoạn sau:

    1.  Từ 1975-1986:

    Sau 30/4/1975,  chính quyền Cách mạng tiếp quản các ngân khố và ngân hàng công, tư của chính quyền Sài Gòn ở Mỹ Tho và Gò Công. Tháng 6/1975, Ty ngân khố tỉnh được thành lập. Tháng 7/1975, Ty ngân khố được chuyển thành Ngân hàng Quốc gia Việt Nam tỉnh Mỹ Tho. Đến tháng 8/1975, chi nhánh Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ở các huyện ra đời.

    Năm 1976, sau khi hợp nhất ba đơn vị hành chính là thành phố Mỹ Tho, tỉnh Mỹ Tho, tỉnh Gò Công thành tỉnh Tiền Giang, Chi nhánh Ngân hàng Quốc gia Việt Nam tỉnh Tiền Giang ra đời với một chi nhánh trung tâm và 6 chi nhánh trực thuộc là Mỹ tho, Gò Công, Cai Lậy, Cái Bè, Chợ Gạo, Châu Thành. Tổng số cán bộ ngân hàng toàn tỉnh chỉ có 47 cán bộ với trình độ chuyên môn rất thấp, trong đó, đại học: 2 cán bộ, cao đẳng: 5 cán bộ, trung cấp: 16 cán bộ, sơ cấp: 24 cán bộ.

    Năm 1978, sau khi thống nhất tiền tệ trong cả nước, hệ thống ngân hàng hoạt động theo mô hình ngân hàng một cấp, ngân hàng nhà nước vừa làm chức năng quản lý, vừa làm chức năng kinh doanh. Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam tỉnh Tiền Giang đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tỉnh Tiền Giang (với 1 chi nhánh trung tâm và 7 chi nhánh trực thuộc là thành phố Mỹ Tho và các huyện như Cai Lậy, Cái Bè, Chợ Gạo, Châu Thành, Gò Công Đông, Gò Công Tây, ngoài ra, còn có các phòng giao dịch trực thuộc ngân hàng huyện, cứ 1-3 xã có một phòng giao dịch) có các nhiệm vụ sau:

    Thu đổi tiền nhằm loại bỏ tiền của chế độ cũ, thực thi chính sách kinh tế lớn của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực phân phối lưu thông.

    Tháng 9/1975, theo quy định quy đổi, một đồng tiền Ngân hàng Việt Nam của ta bằng 500 đồng tiền chính quyền Việt Nam Cộng hoà. Trong đợt thu đổi này, có 148.365 hộ đổi tiền với tổng số tiền cũ thu về là 15.049 triệu đồng.

    Ngày 02/5/1978, công tác thu đổi tiền ngân hàng cũ, phát hành tiền ngân hàng mới được tiến hành trên cả nước. Theo qui định của Nhà nước, một đồng tiền ngân hàng mới bằng một đồng tiền ngân hàng cũ ở miền Bắc và bằng 0,8 đồng tiền ngân hàng cũ ở miền Nam. Trong đợt thu đổi này, ở Tiền Giang có 209.242 hộ đổi tiền với số tiền cũ thu về là 47 triệu đồng, tổng tiền mới phát hành là 41 triệu đồng. Ngành ngân hàng Tiền Giang đã phục vụ tốt công tác thu đổi, đảm bảo nhanh gọn, chính xác, góp phần vào thắng lợi của công cuộc thống nhất tiền tệ trên phạm vi cả nước.

    Ngày 14/9/1985, thành lập 351 bàn thu đổi, với qui định là một đồng tiền mới bằng mười đồng tiền cũ. Toàn tỉnh có 204.588 hộ đổi tiền với số tiền thu về là 1.358 triệu đồng. Do ngành ngân hàng đã có kinh nghiêm qua hai lần thu đổi trước đây, nên công tác thu đổi tiền lần này diễn ra nhanh chóng, thuận lợi và đạt mục đích, yêu cầu đề ra.

    - Thực hiện chính sách tín dụng nhằm phục vụ yêu cầu ổn định đời sống nhân dân, khôi phục và phát triển kinh tế tỉnh sau chiến tranh. Ngân hàng Tiền Giang đã tăng cường hoạt động cho vay và đạt được kết quả rất khả quan, dư nợ tăng trưởng nhanh chóng (năm 1976: 32 triệu đồng, năm 1985: 361 triệu đồng)

    - Huy động vốn trong dân cư nhằm góp phần hỗ trợ công tác tiền tệ và tăng cường thu rút tiền về. Nguồn vốn huy động chủ yếu từ tiền gửi tiết kiệm của dân cư với số lượng ngày càng tăng (năm 1976: 1,4 triệu đồng, năm 1985: 15 triệu đồng).

    Trong giai đoạn này, Ngân hàng Nhà nước tỉnh Tiền Giang có nhiều nỗ lực và đã đạt được một số mục tiêu được đề ra, tuy nhiên cũng có nhiều khó khăn trở ngại do đất nước vừa mới giành lại độc lập, hậu quả chiến tranh để lại rất nặng nề, bên cạnh đó, nền kinh tế mang nặng tính bao cấp đã kiềm hãm sự phát triển của nền kinh tế.

    2.    Từ 1986-2000:

    Thực hiện chủ trương đổi mới hoạt động ngân hàng, chuyển ngân hàng một cấp thành ngân hàng hai cấp, tách các ngân hàng chuyên doanh như Ngân hàng Nông nghiệp và Ngân hàng Công thương ra khỏi Ngân hàng Nhà nước, Ban Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã chọn tỉnh Tiền Giang là một trong hai tỉnh trong cả nước thực hiện trước một bước Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng về việc đổi mới hoạt động ngân hàng để rút kinh nghiệm trong việc xây dựng cơ chế, chính sách mới và chỉ đạo thực hiện trong toàn quốc.

     Ngày 01/4/1988, được sự chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, ngành ngân hàng tỉnh Tiền Giang tiến hành công tác chuyển đổi căn bản về tổ chức, xây dựng hệ thống ngân hàng hai cấp, vận hành theo cơ chế mới. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước tỉnh thực hiện chức năng quản lý, Ngân hàng Nông nghiệp, Ngân hàng Công thương và Công ty vàng bạc đá quý thực hiện chức năng kinh doanh.

         Hai cột mốc quan trọng đánh dấu công cuộc đổi mới của ngành ngân hàng cả nước nói chung và của tỉnh Tiền Giang nói riêng đó là sự ra đời của Pháp lệnh Ngân hàng (tháng 5/1990), và Luật Ngân hàng (tháng 12/1997) đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý, kinh doanh của ngân hàng.

    Để đáp ứng yêu cầu đổi mới, mạng lưới ngân hàng ở tỉnh được mở rộng và phát triển nhanh chóng, đầu năm 1986, toàn tỉnh chỉ có 9 đơn vị ngân hàng tỉnh, huyện, thị, đến năm 2000, toàn tỉnh có 53 đơn  vị ngân hàng tỉnh, huyện ,thị, khu vực, phòng giao dịch, quỹ tín dụng nhân dân và công ty vàng bạc đá quý. Ngân hàng Nhà nước Trung ương chọn tỉnh Tiền Giang là một trong 14 tỉnh, thành cả nước thành lập thí điểm quỹ tín dụng nhân dân cơ sở theo mô hình mới để thích ứng với nền kinh tế thị trường. Cụ thể:

    - Ngân hàng Nhà nước: 1 đơn vị

    - Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: 22 đơn vị (hội sở chính: 1; Ngân hàng phục vụ người nghèo: 1; Ngân hàng cấp III: 7; Ngân hàng cấp IV: 13).

    - Ngân hàng Công thương: 5 đơn vị (ngân hàng cấp II: 1; Phòng giao dịch: 3; Cửa hàng cầm đồ: 1).

    - Ngân hàng Đầu tư và phát triển: 3 đơn vị ( Ngân hàng cấp II: 1; Phòng giao dịch: 2).

    - Quỹ tín dụng nhân dân: 15 đơn vị.

    - Công ty vàng bạc đá quý: 7 đơn vị.

    Đội ngũ cán bộ, viên chức ngành ngân hàng không những được đào tạo để phát triển về chất lượng, mà số lượng cán bộ cũng ngày càng tăng, cụ thể đến năm 2000 có 692 cán bộ, trong đó, 3 cán bộ có trình độ thạc sĩ, 244 cán bộ có trình độ đại học.

     Về hoạt động huy động vốn, Ngành ngân hàng tỉnh tích cực huy động vốn để thực hiện phương châm “đi vay để cho vay”, đa dạng hoá các hình thức huy động vốn, do đó, nguồn vốn huy động tăng trưởng mạnh, năm 2000 đạt 824 tỷ đồng, tăng gấp 22 lần so với năm 1985 góp phần nâng cao hoạt động tín dụng. Bên cạnh đó, việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Chính phủ về cho vay hộ sản xuất, cho vay đối với nông dân và cho vay người nghèo đã giúp người dân dần nâng cao khả năng sản xuất, cải thiện cuộc sống. Dư nợ tín dụng tăng trưởng liên tục, năm 1986 đạt 1.757 triệu đồng, đến năm 2000 đạt 1.869.136 triệu đồng.

    Trong giai đoạn này, ngành Ngân hàng Tiền Giang đã vượt qua những khó khăn, thử thách, nhất là việc chuyển đổi từ ngân hàng bao cấp thành ngân hàng hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, luôn nỗ lực vươn lên và góp phần đáng kể vào sự phát triển của ngành ngân hàng cả nước.

    3.     Từ năm 2000 đến nay:

    Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và chức năng Ngân hàng Trung ương, Ngân hàng Nhà nước đã từng bước đổi mới, hoàn thiện công tác hoạch định, chỉ đạo, điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, góp phần quan trọng ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, ổn dịnh giá trị đồng tiền, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần đạt thành tựu to lớn và mang ý nghĩa lịch sử trong 25 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng ta. Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước cũng từng bước được củng cố, hoàn thiện theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thực thi chính sách tiền tệ. Các ngân hàng thương mại nhà nước phát huy vai trò chủ đạo, Ngân hàng Chính sách xã hội góp phần to lớn giảm hộ nghèo và thực hiện chính sách an sinh xã hội của Đảng, Nhà nước. Hệ thống quỹ tín dụng nhân dân ngày càng được củng cố và phát triển, góp phần hạn chế cho vay nặng lãi ở nông thôn.

    Sau hơn 25 năm đổi mới và phát triển, tính đến hết quý II/2012, hệ thống Ngân hàng thương mại gồm có 6  ngân hàng thương mại nhà nước, 2 ngân hàng chính sách thực hiện cho vay ưu đãi, 16 ngân hàng thương mại cổ phần , 15 Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở. Đội ngũ cán bộ gần 2.000 người, cán bộ Ngân hàng được trưởng thành toàn diện với trình độ trên đại học chiếm 4%, Đại học chiếm trên 70%. Với mạng lưới hoạt động rộng khắp, quy mô hoạt động ngày càng lớn, trình độ công nghệ và chất lượng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng từng bước được cải thiện đã đáp ứng ngày càng hiệu quả hơn nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xoá đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân và thúc đẩy nhanh hơn quá trình chu chuyển vốn và lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế. Nguồn vốn huy động hàng năm tăng liên tục, tăng trung bình hàng năm trên 25% so năm trước đã đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn vay của các thành phần kinh tế, với số dư vốn huy động đạt 19.801 tỷ đồng cuối tháng 6/2012. Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế của hệ thống ngân hàng trong các năm qua có mức tăng trưởng bình quân gần 20%/năm, và đạt 15.979 tỷ vào cuối tháng 6/2012. Trong đó dư nợ tín dụng đầu tư cho khu vực nông nghiệp, nông thôn chiếm 58% trên tổng dư nợ, đã góp phần tích cực trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới. 

    Năng lực và trình độ của đội ngũ cán bộ ngân hàng ngày càng được nâng cao, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế của hệ thống ngân hàng. đã  tác động đến nước ta và ngành Ngân hàng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức. Tuy nhiên, với bản lĩnh chính trị vững vàng và sự đoàn kết, năng động, sáng tạo của thế hệ cán bộ ngân hàng hôm nay, hoạt động của hệ thống ngân hàng tiếp tục duy trì được sự ổn định và có bước phát triển vững chắc, góp phần cùng các cấp, các ngành đưa đất nước ta vượt qua khủng hoảng, ngăn chặn thành công suy giảm kinh tế, phục hồi đà tăng trưởng, tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội.

    Hoạt động Ngân hàng trong những năm qua có những chuyển biến tích cực về mặt chất lượng, công tác thanh toán không dùng tiền mặt được các NH thực hiện có hiệu quả như chi trả lương qua tài khoản, giảm bớt lượng tiền mặt trong lưu thông, tiết kiệm chi phí. Hoạt động tín dụng đã quan tâm đến chất lượng, tỷ lệ nợ xấu tại các NHTM ngày càng giảm, trích lập quỹ, dự phòng và xử lý rủi ro đúng qui định. Công tác thanh toán ngày càng hiện đại, nhanh chóng đã được khách hàng tín nhiệm. Nhiều tấm gương tốt của Ngành được tôn vinh như trả tiền thừa cho khách hàng hàng mỗi năm hàng trăm triệu đồng, món cao nhất trên 100 triệu và nhiều tấm gương khác trong hoạt động trong thời kỳ đổi mới. 

    Nhìn lại chặng đường hình thành và phát triển của Ngành Ngân hàng Tiền Giang, chúng ta vô cùng tự hào về sự lớn mạnh của Ngành, quá trình thực hiện  của Đảng và Nhà nước và của Ngành đã xuất hiện nhiều tập thể và cá nhân xuất sắc đã được Đảng và nhà nước ghi nhận. Ngành NH đã được đón nhận 10 Huân chương lao dộng. Trong đó Ngân hàng nông nghiệp tỉnh đã xuất sắc được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhất vào năm 2010. Ba Huân chương Lao động hạng nhì gồm NH Nông nghiệp, NH Công Thương tỉnh và NH Đầu tư. 6 Huân chương lao động hạng ba cho các tập thể và cá nhân. 03 Cờ thi đua của Thủ tướng Chính phủ, 7 Cờ thi đua của Thống đốc, 89 cờ thi đua UBND tỉnh, trên 1.500 Bằng khen của Thống đốc, UBND tỉnh, bộ ngành khác cho các tập thể và cá nhân và nhiều giấy khen các cấp cho tập thể và cán bộ công nhân viên ngành Ngân hàng Tiền Giang.

                                                                         Trích theo Địa chí tỉnh Tiền Giang.